BÍ ẨN LINH HỒN

BÍ ẨN CỦA LINH HỒN

Bạn có tin ở linh hồn ? Bạn không tin ở linh hồn ?

Thật khó trả lời, vì đó là một khái niệm mà chưa bao giờ con người thực sự làm chủ. Nhưng giải thích sự tồn tại và vận động của thế giới xung quanh và thậm chí là của chính bản thân mình là nhu cầu không bao giờ vơi cạn của con người. Vì thế, các nhà khoa học vẫn luôn nỗ lực tìm kiếm câu trả lời về linh hồn.

Từ một câu chuyện kỳ lạ tại Tây Tạng

Tại vùng đất huyền bí nhất trên thế giới, Tây Tạng cho đến ngày nay vẫn còn lưu truyền một sự kiện hết sức kỳ lạ về “Người cầu vồng”. Sự kiện xảy ra năm 1998 tại Kham, khu vực hẻo lánh phía đông Tây Tạng, sự biến mất kỳ lạ của vị Lạt ma Khenpo A-chos. Ông là một trong các vị Lạt ma có uy tín nhất trong vùng, thường xuyên thuyết giảng về đạo Phật dù Chính phủ Trung Quốc có những quy định rất khắt khe về việc này.

Vào tuổi 80 vị Lạt ma vẫn hoàn toàn khoẻ mạnh. Một hôm, Lạt ma Khenpo A-chos lên nằm trên giường của mình, miệng lẩm bẩm câu thần chú Tây Tạng “Om mani padme hum” (Úm Ma Ni Bát Dị Hồng) và qua đời. Ngay sau đó, cầu vồng xuất hiện trên căn phòng nhỏ của ông suốt cả ngày.

Những người học trò của Khenpo A-chos tổ chức lễ cầu kinh để linh hồn người thầy siêu thoát. Nhưng hiện tượng lạ thường xảy ra : da thịt của vị Lạt ma bắt đầu hồng hào trở lại. Dường như Khenpo A-chos đang từ từ tái sinh. Học trò của ông đi hỏi ý kiến một vị Lạt ma và được lời khuyên hãy bọc thi thể của thầy lại và tiếp tục cầu kinh. Họ làm đúng như lời chỉ dẫn. Một tuần sau, khi mở tấm áo bọc thi thể vị Lạt ma, người ta chỉ thấy vài sợi tóc còn sót lại trên gối, thi thể của Khenpo A-chos đã hoàn toàn biến mất. Từ đó người Tây Tạng gọi ông là “Người cầu vồng”.

Câu chuyện thần bí lan ra khắp nơi. Cha Francis Tiso – một cha đạo dòng thánh Benedict tại Mỹ cũng nghe được câu chuyện kỳ bí này. Ông là một trong những chuyên gia nghiên cứu về đạo Phật và đã có học vị tiến sĩ trong lĩnh vực này. Cha Francis Tiso tổ chức một chuyến đi đến Kham để ghi lại lời kể của những người đã chứng kiến sự kiện. Người mà cha Tiso muốn gặp nhất là vị Lạt ma đã được các học trò của Lạt ma A-chos hỏi ý kiến. Vị Lạt ma nói với cha Tiso rằng sự biến mất của Lạt ma A-chos là do một lực vật chất xuất phát từ trong linh hồn của ông ấy. Đây không phải là một câu nói mang hàm ý triết học hoặc ẩn dụ, điều ông muốn nói ở đây là một sự thực đã xảy ra. Vị Lạt ma đưa cho cha Tiso xem một bức ảnh của Lạt ma A-chos khi ông đã qua đời.

Bằng mắt thường có thể nhìn thấy rất rõ một luồng ánh sáng phát ra từ thân thể của Lạt ma A-chos. Xem bức ảnh, cha Tiso thốt lên : “Đây là sự giao hoà giữa cái có thể và không thể, giữa một con người hiện hữu và con người siêu phàm. Một ngày nào đó chúng ta sẽ tìm được cơ sở để chứng minh rằng nó có thật”.

Điều mà cha Tiso muốn tìm trong sự kiện xảy ra tại Kham cũng nằm trong vấn đề lớn mà ông đang nghiên cứu, đó là có hay không sự tồn tại của linh hồn con người. Hiện nay, những cuộc tranh cãi xung quanh vấn đề này vẫn diễn ra quyết liệt. Mấu chốt của vấn đề nằm ở chỗ, nếu có sự tồn tại của linh hồn thì làm sao để xác định được. Những người cho rằng linh hồn là có thật dựa vào các tài liệu tôn giáo để chứng minh cho sự tồn tại của nó, còn người phản đối thì cho rằng các lập luận đó quá mơ hồ và không thể đủ độ tin cậy khi được kiểm chứng bằng các nghiên cứu khoa học.

Những kiểm chứng khoa học

Nhiều người đã cố gắng chứng minh sự tồn tại của linh hồn bằng các thí nghiệm khoa học. Một trong số đó là bác sĩ Duncan MacDougall. Sau khi tiến hành thí nghiệm trên 7 người chết, ông phát hiện rằng ngay sau khi qua đời, cân nặng của người chết giảm đi từ 11 đến 43g. Ông cho rằng đó là phần vật chất mà người ta thường gọi là linh hồn thoát ra khỏi thi thể. Sau này, nhiều người khác cũng thử lặp lại thí nghiệm của Duncan, nhưng câu trả lời cho sự tồn tại của linh hồn vẫn chưa được làm sáng tỏ. Phần trọng lượng bị mất đi đó của con người sau khi chết được giải thích chỉ đơn giản là sự bốc hơi của lượng nước có sẵn bên trong cơ thể.

Một bác sĩ khác cũng cố gắng chứng minh sự tồn tại của linh hồn bằng những thí nghiệm khoa học, đó là Gerard Nahum, giám đốc bộ phận nghiên cứu của công ty dược phẩm Berlex. Ông đã bỏ ra 20 năm chỉ để nghiên cứu lĩnh vực này. Theo Nahum, vấn đề khó nhất để xác định sự tồn tại của linh hồn là phải tìm được những chuỗi điện từ phát ra từ thi thể người chết. Ông đặt hàng loạt những máy dò hiện đại xung quanh thi thể (máy viba, máy dò tia hồng ngoại, tia gama, điện từ,…) để tìm ra “linh hồn”.

Nahum chắc chắn rằng sau khi chết, tất cả những gì thuộc về người đó khi họ còn sống không thể ngay lập tức mất đi hoàn toàn được. Nó sẽ phải qua một quá trình chuyển biến đến một nơi nào đó trong không gian. Tại những nơi đó, chúng sẽ được giữ gìn và tồn tại vĩnh cửu. Nhưng khi ông thử trình bày ý tưởng của mình với các trường đại học tại Mỹ thì tất cả đều từ chối. Ngay cả nhà thờ Thiên Chúa giáo cũng không chấp nhận tài trợ cho những nghiên cứu của Nahum. Vì thế những nỗ lực của nhà khoa học này giậm chân tại chỗ…

“Đó không phải là thứ dành cho đôi mắt, mà là của trái tim. Đối với chúng ta, có lẽ sự nhìn nhận bằng đôi mắt và cả sự cảm nhận từ trái tim sẽ cho câu trả lời chính xác nhất” – Lời của vị Lạt ma mà cha Tiso gặp tại Kham đã nói.

Tại Đại học Virginia, một chuyên gia tâm thần học là Gruce Greyson cũng có các nghiên cứu liên quan đến sự tồn tại của linh hồn. Greyson là người đầu tiên tập trung vào tâm lý của những người đang ở ranh giới của sự sống và cái chết. Ông phát hiện ra rằng một vài người đang hấp hối đều nhìn thấy một luồng ánh sáng xanh rất mạnh, và cảm thấy một đường hầm đang dẫn họ về phía trước.

Nhưng thực ra Greyson lại không hoàn toàn tin tưởng vào sự tồn tại của linh hồn. Ông cho rằng, phải có nhiều nghiên cứu nữa thì mới chứng tỏ được sự tồn tại hay không tồn tại của linh hồn.

Những câu trả lời có căn cứ từ khoa học hoặc tôn giáo hiện nay vẫn chưa thể coi là thoả đáng. Qua 30 năm tìm hiểu về trạng thái tâm thần của người hấp hối, ông đã phát hiện thấy khoảng 10% số người trong số các bệnh nhân suy tim đều có dấu hiệu hoạt động của não trong khi họ đang bất tỉnh. Sau khi được cứu chữa và tỉnh lại, những bệnh nhân này cho biết họ thấy những hoạt động của bác sĩ và y tá ở một điểm cao hơn. Tiếp tục nghiên cứu, Greyson cho đặt một màn hình với những giao diện khác nhau bên ngoài phòng cấp cứu bệnh nhân bị suy tim. Ông cho rằng, nếu thật sự có sự tồn tại của linh hồn, thì những người bị suy tim sau khi tỉnh lại sẽ biết được màu sắc của màn hình đặt tại phòng bên cạnh. 50 người đã được thử nghiệm, nhưng không một ai biết được màn hình có màu gì. Nhà khoa học giải thích rằng đó là do tác dụng của thuốc gây mê đã cản trở sự thoát ra của linh hồn.

Pim van Lommel, bác sĩ chuyên khoa tim người Đan Mạch cũng đồng ý với quan điểm của Greyson. Lommel cho rằng con người không chỉ có một ý thức, trong khi họ đang ở trong tình trạng hấp hối thì những ý thức khác hoạt động và mở rộng phạm vi của nó nhiều hơn so với bất cứ thời điểm nào trước đó. Lúc đó họ có thể hồi tưởng lại những khoảng thời gian xa xôi nhất trong quá khứ và cảm nhận được một cách rõ ràng hơn bình thường sự vật và con người xung quanh. Trong khi đó, thần kinh trung ương của họ vẫn đang ngừng hoạt động.

Những giả thiết trên đã đặt ra một sự nghi ngờ đối với kiến thức mà chúng ta đã biết và thừa nhận từ lâu : Ý thức là sản phẩm của não bộ. Điều đó giờ đây có thể không còn chính xác nữa. Bởi vì nếu như vậy, ý thức sẽ không thể tồn tại nếu não bộ ngừng hoạt động. Nhưng các thí nghiệm ở trên thì đều chứng minh cho điều ngược lại.

Còn hai học giả của trường Oxford là Stuart Hameroff và Roger Penrose lại giải thích sự tồn tại của linh hồn bằng quá trình lượng tử. Theo hai ông, não bộ con người được chia ra làm hàng tỉ ô siêu nhỏ, các ô này liên kết với nhau thông qua một quá trình di chuyển của các lượng tử. Khi cơ thể một người ngừng hoạt động, máu sẽ không được chuyển đến các ô này, và chúng cũng ngừng hoạt động. Nhưng sự di chuyển của các lượng tử thì không mất đi. Chúng sẽ thoát ra bên ngoài não bộ và ghi nhận những gì tồn tại ở không gian xung quanh. Nếu người đó tỉnh lại, các lượng tử sẽ quay trở lại não và hoạt động với chức năng thông thường của chúng. Những gì chúng ghi lại được khi thoát ra bên ngoài cũng được não bộ tiếp nhận. Và đó là lý do tại sao một người hấp hối nhưng sau đó được cứu sống lại có thể biết được những sự kiện mà anh ta không hề tận mắt chứng kiến hoặc được nghe kể lại.

Vậy nếu người đó không tỉnh lại được nữa thì các chuỗi lượng tử đó sẽ di chuyển đi đâu ? Tiếp tục mở rộng giả thuyết của Hameroff và Penrose, bác sĩ Ian Stevenson đã nghiên cứu về khả năng các chuỗi lượng tử đó sẽ được tiếp nhận trong bộ não của trẻ sơ sinh, hay nói cách khác đó chính là sự tái sinh! Sau khi Ian Stevenson mất, con trai ông là Tucker tiếp tục theo đuổi giả thuyết này. Tucker tiến hành phỏng vấn rất nhiều trẻ em, trong số đó ông đã tập hợp được 1.400 em có khả năng biết được những sự kiện xảy ra trước khi chúng sinh. Thậm chí một vài em còn có thể kể rất rõ những sự kiện trong cả các giai đoạn phát triển rất sớm của lịch sử loài người.

Thực tế cho đến nay, dù có tập hợp được tất cả các công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này thì chúng ta cũng không thể nào biết được chính xác liệu có sự tồn tại của linh hồn hay không, và nếu có tồn tại thì chúng sẽ tồn tại ở dạng nào. Có lẽ khoa học không phải lúc nào cũng là giải pháp tối ưu cho tất cả mọi vấn đề. Như lời của vị Lạt ma mà cha Tiso gặp tại Kham đã nói : “Đó không phải là thứ dành cho đôi mắt, mà là của trái tim. Đối với chúng ta, có lẽ sự nhìn nhận bằng đôi mắt và cả sự cảm nhận từ trái tim sẽ cho câu trả lời chính xác nhất.”

Ảo thần

Theo mô tả của những người đã từng rơi vào trạng thái ảo thân, có một quả cầu bạc xuất hiện trên đầu, và “linh hồn” của họ chui vào quả cầu đó.

“Ảo thân” hay “du thần” (out of body experience – OBE) là trạng thái như cơ thể bị phân tách thành hai nửa, dạng như hồn vía và thể xác. Trong đó, phần “thần” vẫn quan sát được thể xác và thế giới xung quanh. Những trường hợp OBE thường được tả giống như người trong mơ, hoặc nửa tỉnh nửa mê nhưng 5 giác quan vẫn hoạt động bình thường. Một thống kê cho thấy có tới 15% người được hỏi từng bị ảo thân.

Những người đã từng rơi vào trạng thái này kể lại, họ thấy một quả cầu màu bạc đường kính khoảng 15 cm xuất hiện phía trên đầu (đôi khi là một đường hầm và ánh sáng xuất hiện ở phía cuối). “Linh hồn” của họ chui vào đó và quả cầu bắt đầu chuyển động xuyên qua trần nhà lên phía trên. Một sợi dây bạc gọi là quang tuyến níu giữ giữa quả cầu “linh hồn” và thể xác của họ. Sau đó quả cầu bạc lớn mãi, vượt ra ngoài vũ trụ, thậm chí có người còn mô tả quả cầu bạc đã đưa họ tới tận… sao Mộc.

Nếu ở tình trạng OBE lâu hơn 5 phút, sẽ có cảm giác kéo căng ở trán, thái dương, cơ thể rung động, theo những người này là do sợi quang tuyến bị căng quá mức. Không chỉ lang thang khắp vũ trụ, những người ảo thân còn mô tả gặp cả Chúa trời, thiên thần hộ mệnh (đôi khi có dạng một con thú nào đó, được cho là nắm giữ tất cả các bí mật của thế giới) hoặc bất cứ điều gì họ muốn. Khi đã chán chu du thiên hạ, “hồn” của họ sẽ trở về theo trình tự ngược lại. Quả cầu bạc sẽ thu nhỏ dần, về trái đất, về căn nhà, đến bên thân thể họ và chui qua đường… ngón chân để trở lại bình thường.

Một vật bất ly thân của các OBE chuyên nghiệp là cuốn nhật ký xuất vía, chuyên ghi lại những kinh nghiệm hoặc khó khăn của các chuyến “du ngoạn” kiểu OBE. Với họ, việc gặp thiên thần hộ mệnh là quá đơn giản. Họ có thể vượt qua được các rào cản “năng lượng” để chuyển động tới những vùng cấm kỵ của vũ trụ.

Các tay OBE chuyên nghiệp còn cho rằng họ có thể “đọc vị” suy nghĩ của các nhà lãnh đạo cao cấp, đó là đẳng cấp “gián điệp OBE”. Nghĩa là họ dùng phương pháp “du thần” để thâm nhập những khu vực được bảo vệ tuyệt mật, hoặc đi vào ý nghĩ của các nhà lãnh đạo, để thu thập thông tin, thậm chí là điều khiển họ làm những công việc có lợi.

Bản thân Cơ quan tình báo Mỹ cũng từng có thời kỳ hoang mang trước các câu chuyện của OBE. Có thời điểm CIA đã chiêu mộ 16 OBE chuyên nghiệp để thử nghiệm làm hàng rào “năng lượng”.

Đằng sau “nhật ký xuất vía”

Nhà cận tâm lý học Susan Blackmore (Mỹ) đã tìm cách khám phá những bí mật của OBE. Khi còn là sinh viên, bà đã trực tiếp thực nghiệm OBE trên bản thân mình, và mô tả khá giống với “nhật ký xuất vía” của các tay OBE chuyên nghiệp: “Thần” thoát ra qua một đường hầm và bay lên, cũng có một sợi dây bạc nối “thần” với thể xác. Nó vượt qua khu giảng đường Oxford, thấy nước Anh ở phía dưới và cuối cùng, vượt qua Đại Tây Dương tới New York. Sau đó Susan trở về phòng của mình tại Oxford và thu nhỏ, thu nhỏ… chui qua ngón chân vào cơ thể.

Susan thú nhận bà đã sử dụng một số loại ma túy như bồ đà (gây ảo giác mạnh) để đạt được điều này chứ không phải luyện tập theo “giáo trình” của các OBE chuyên nghiệp. Qua đó, bà cho rằng, OBE là một tình trạng mất phản xạ của thần kinh thị giác, gây ảo giác (gần giống với tình trạng các kinh nghiệm cận tử  hoặc một bệnh tâm thần có tên là “ảo giác thần tiên”). Nó có thể bị chi phối bởi thuốc gây mê, ma túy hoặc sang chấn tâm lý.

Những câu chuyện về OBE được thêu dệt ngày càng phong phú nhưng lại không có một bằng chứng nào rõ ràng. Điều này đã làm một người Mỹ là ông James Randi nảy ra sáng kiến. Vào năm 1964, ông đã thành lập một quỹ để thưởng cho ai đưa ra bằng chứng về những khả năng đặc biệt, với mức thưởng ban đầu là 1.000 USD, và hiện nay đã lên tới 1 triệu USD. Điều kiện tham dự khá đơn giản, chỉ cần chứng minh (dưới sự giám sát của ban giám khảo) rằng mình có khả năng siêu nhiên nào đó như gọi hồn, ngoại cảm thấu thị, nhân điện, thần giao cách cảm… Từ năm 1997 tới 2005 đã có 650 người nộp đơn nhưng không ai vượt qua được vòng sơ khảo.

“BỖNG DƯNG”… MUỐN CHẾT

Cuộc sống của những người dân ở chốn núi rừng vẫn còn những tập tục lạc hậu đã ăn sâu trong tiềm thức. Và, một trong những điều “bí ẩn” đó là nạn tự tử diễn ra khá phổ biến tại một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Bình Định. Đâu là nguyên nhân khiến những con người chân chất này tìm đến thế giới khác?

Đang chăm chú đào mấy gốc mì (sắn), người vợ không ngờ chồng mình lại đột nhiên dùng rựa cứa mạnh vào cổ để tự tử. Đêm trước, hai vợ chồng họ có chuyện xích mích với nhau, anh chồng dọa : “Tao nói mày không nghe thì tao chết cho rồi”. Máu từ cổ người chồng vọt ra, người vợ kinh hoàng la lên. Những người làm rẫy xung quanh vội đưa nạn nhân đi cấp cứu…

Trên đây chỉ là một trong số hàng chục vụ tự tử xảy ra thời gian qua trong cộng đồng người H’rê ở huyện An Lão (Bình Định). Tỉnh này hiện có một cộng đồng người H’rê khoảng 7.000 người, tập trung chủ yếu ở huyện An Lão, sống bằng nghề làm rẫy và chăn nuôi. Những năm gần đây, nạn tự tử trong cộng đồng này đột nhiên gia tăng. Nhiều vụ nguyên nhân các nạn nhân tìm đến cái chết hết sức đơn giản, lắm khi làm cho người tìm hiểu vụ việc phải bất ngờ.

Bài toán nan giải

Sau hội thao quân sự địa phương, Hưng, 26 tuổi, một dân quân xã An Nghĩa (An Lão) lầm lũi vào rừng để… thắt cổ chết. Đơn giản vì trước đó anh không hoàn thành bài thi bắn súng trúng mục tiêu nên bị bạn bè chọc quê… Còn Dốp, 22 tuổi, ở xã An Dũng, lại tìm đến cái chết bằng một chai thuốc trừ sâu vì giận vợ đã không làm thịt gà trong một đêm tiếp bạn nhậu. Tương tự, Cư, 22 tuổi, là công an viên xã An Hưng, cũng uống cạn một chai thuốc sâu vì không trấn áp được một đối tượng càn quấy ở địa phương. Mới nhất là vụ Trần Say 19 tuổi, ở làng Hà Lũy, xã Canh Thuận, huyện miền núi Vân Canh, Bình Định, sau khi cãi nhau với vợ đã bỏ đi đâu không rõ. Rạng sáng ngày 20/10/2010, bà con trong làng đi làm sớm đã phát hiện Say treo cổ chết bên đường…

Nhiều trường hợp “bỗng dưng muốn chết” xuất phát từ những lý do hết sức “dễ hiểu” như thế. Có em học sinh đòi gia đình mua xe máy, cha mẹ không mua vì không có tiền, thế là buồn, vào rừng thắt cổ chết. Một chàng trai bị cô gái từ chối tình yêu vì “mày uống nhiều rượu, cái bụng tao không yêu mày nữa !”, vậy là chàng liền uống thuốc tự tử….

Tại huyện Vĩnh Thạnh (Bình Định), nơi chủ yếu là người Bana sinh sống, có ông N. ở làng L7, xã Vĩnh Hảo, là thông gia với ông K. ở làng bên. Một lần, ông K. sang thăm nhà ông N., được ông này đãi bia. Đến khi ông N. sang nhà ông K. thăm lại, vì hoàn cảnh khó khăn, ông K. chỉ tiếp khách bằng rượu. Sau đó ít ngày, người làng có lời ra tiếng vào, chê bai ông K. hà tiện. Vài hôm sau, ông K. thắt cổ tự tử. Dự đám tang ông K. về, nghĩ vì mình mà ông K. chết, thế là ông N. cũng thắt cổ chết theo…

Đau lòng hơn cả là cái chết của sơn nữ Đ.T.H ở làng 4, xã Vĩnh Thuận, huyện Vĩnh Thạnh. Lấy chồng sớm, mới 18 tuổi H. đã có hai con. Sự nghèo khó khiến cho hạnh phúc của vợ chồng cô luôn bấp bênh. Rồi mâu thuẫn giữa đôi vợ chồng trẻ xảy ra, trong lúc cạn nghĩ, H. đã quyên sinh để lại hai đứa con thơ nheo nhóc…

Hàng loạt những cái chết “lãng xẹt” diễn ra trên khắp các vùng dân cư ở chốn núi rừng heo hút đã khắc họa nên bức tranh hết sức đáng báo động về sự bế tắc trong đời sống tinh thần, cùng quẫn trong hành vi của một bộ phận người thiểu số. Cái chết của các nạn nhân không chỉ để lại nỗi đau cho những người thân trong gia đình mà còn đặt ra một bài toán khá nan giải đối với các cơ quan chức năng địa phương.

Đi tìm ẩn số

Hầu hết những trường hợp tự tử đều ở trong độ tuổi lao động, có hoàn cảnh gia đình khó khăn; hình thức tự tử phổ biến nhất là uống thuốc diệt cỏ và thắt cổ. “Họ muốn chết, mình không kịp trở tay; sẵn có thuốc diệt cỏ trong nhà, uống vào là xong”, Đinh Hnhao, cán bộ xã Vĩnh Thuận (huyện Vĩnh Thạnh), buồn rầu nói.

Một lãnh đạo Công an huyện An Lão cho biết : Thật khó lý giải khi số lượng các vụ tự tử tăng đột biến nhưng nguyên nhân trực tiếp của từng vụ lại hết sức đơn giản. Đa phần là do mâu thuẫn, xung khắc rất bình thường, trong quan hệ gia đình, láng giềng, bè bạn, đồng nghiệp… Số vụ tự tử vì lý do tình ái, vì các căn bệnh về thần kinh chiếm tỷ lệ không đáng kể và không có vụ nào có dấu hiệu của tội phạm xúi giục, giúp người khác tự tử hoặc dấu hiệu tội phạm bức tử.

Có nhiều vụ biểu hiện sự lạm dụng chất kích thích để tăng thêm “quyết tâm” trong việc thực hiện hành vi tự tử. Kết quả khám nghiệm hiện trường, khám tử thi các vụ tự tử cho thấy : 70% số đối tượng tự tử trước khi hành động đều uống nhiều rượu. Ông Đinh Yang Kinh, Trưởng ban Dân vận Huyện ủy Vĩnh Thạnh, khẳng định : “Rượu là một trong những tác nhân ảnh hưởng trực tiếp đến việc tự tử. Không chỉ bó hẹp trong không gian lễ hội hay sinh hoạt văn hóa truyền thống, uống rượu giờ đây đã bị lạm dụng, thậm chí trở thành nhu cầu thường xuyên của một số người. Hơn nữa, người miền núi tính tự ái rất cao, một khi họ cảm thấy xấu hổ vì một điều gì đấy, lại nghĩ đến chuyện… tự tử”. Tập quán và kỹ năng sản xuất lạc hậu, năng suất lao động thấp, nghèo khó cũng được xác định là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến vấn nạn tự tử…

Ngoài ra, theo nhận định của Công an huyện An Lão, một số vụ tự tử có dấu hiệu “lây lan” theo quan hệ huyết thống, theo đơn vị làng, cụm dân cư.

Nạn tự tử ở các vùng miền núi không còn là chuyện riêng của mỗi cá nhân mà đã trở thành vấn đề xã hội. Hậu quả nó cướp đi sinh mạng của nhiều người, ảnh hưởng xấu tới đời sống của các bản làng người dân tộc thiểu số nói riêng và trật tự an toàn xã hội của địa phương nói chung. Rõ ràng, đây là một hiện tượng không bình thường. Dù các ngành chức năng ở Bình Định đã rất nỗ lực trong việc đề ra nhiều biện pháp ngăn chặn nhưng theo chúng tôi, ngoài những biện pháp như đã áp dụng (tuyên truyền, vận động, nâng cao hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần cho vùng cao…), các cơ quan chức năng ở Bình Định cần đầu tư nghiên cứu một cách toàn diện (có sự tham gia của các nhà nghiên cứu xã hội học) để tìm đúng nguyên nhân đã gây ra tình trạng tự tử trong cộng đồng người dân tộc thiểu số. Như vậy mới có thể giải quyết được tận gốc vấn đề nhức nhối này.

Theo thống kê, từ đầu năm 2009 đến nay, tại 2 huyện miền núi An Lão và Vĩnh Thạnh (tỉnh Bình Định) đã xảy ra 41 vụ tự tử. Trong đó, có 25 vụ dẫn tới tử vong và 16 vụ nhờ phát hiện kịp thời nên nạn nhân được cứu sống. Đối tượng tự tử chủ yếu là người các dân tộc Bana và H’rê.

Trước thực trạng đó, mới đây UBND tỉnh Bình Định đã ban hành công văn về việc ngăn chặn tình trạng tự tử, tự sát vùng đồng bào dân tộc thiểu số, yêu cầu thủ trưởng các sở, ngành, chủ tịch UBND các huyện có liên quan tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhận thức trong người dân đa số là đồng bào dân tộc, miền núi hãy biết quý trọng tính mạng, cuộc sống của bản thân và mọi người xung quanh.

Đinh Xuân Thu – Nhơn Phong

About these ads

Một phản hồi

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 180 other followers

%d bloggers like this: